| Chào mừng bạn đến với Diễn đàn Bộ môn Tâm lý học Hãy Đăng kí ngay nếu bạn vẫn chưa là thành viên. Tham gia để cùng giao lưu và học hỏi nhé! |
| Nhu cầu về tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT: Một số cơ sở thực tiễn | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: 25 Oct 2010, 22:11 (393 Views) | |
| lethanhnhan | 25 Oct 2010, 22:11 Post #1 |
![]()
Administrator
|
Nhu cầu về tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT: Một số cơ sở thực tiễn (Tamly) - Ở Việt Nam hiện nay, giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp vẫn còn chưa thật sự được chú trọng.Những lựa chọn sai lầm về ngành học do thiếu những tri thức và kỹ năng cần thiết đã không tạo ra được ở nhiều sinh viên sự hứng thú, gắn bó với nghề. Dù Nhà nước Việt Nam và các cơ quan hữu quan đã có những chủ trương định hướng cho việc triển khai công tác giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, nhưng đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam, giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp vẫn còn chưa thật sự được chú trọng. Thực trạng này đã cần thiết phải thay đổi hay không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ tham khảo một số kết quả khảo sát thực tiễn sau đây: Quyết định của học sinh trung học phổ thông (THPT) về trường/ngành sẽ học sau khi tốt nghiệp THPT và tâm trạng khi có các quyết định đó. Một trong những nét đặc thù của học sinh THPT là các em phải lựa chọn ngành học (nghề nghiệp sau này) sau khi tốt nghiệp THPT. Trên cơ sở nhận thức về tầm quan trọng của nghề nghiệp/công việc đối với mỗi người trong xã hội và giá trị của hoạt động nghề nghiệp, hầu hết học sinh THPT (95,9%) đã có những suy nghĩ về ngành nghề sẽ học sau khi tốt nghiệp THPT. Phần lớn các em cũng đã có những quyết định lựa chọn ngành nghề sẽ học: 88,2% số em đã có những quyết định về các ngành nghề hoặc trường đại học sau này sẽ dự thi. Tuy nhiên, chỉ có 36,4% số học sinh hoàn toàn tin tưởng rằng những ngành nghề mà các em đã chọn và dự định sẽ học là hoàn toàn phù hợp với các em; 40,9% - còn băn khoăn không biết ngành nghề đã chọn có thật sự phù hợp với các em không; 12,1% - không biết sau này có xin được việc làm đúng nghề đã học không và 10,6% số học sinh cảm thấy khó trả lời. Tình trạng nêu trên diễn ra như nhau ở tất cả các khối lớp. Như vậy còn khá nhiều học sinh hoặc thiếu hiểu biết về phẩm chất và năng lực của bản thân, hoặc thiếu hiểu biết về các ngành nghề mà các em đã chọn. Lý do chọn ngành nghề sẽ học của học sinh THPT. Theo các nhà chuyên môn thì ba điểm tựa cần chú ý khi một cá nhân quyết định lựa chọn ngành nghề nào đó cho mình là sự phù hợp năng lực của cá nhân với nghề, sự hứng thú, say mê nghề và nhu cầu xã hội. Các kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy, nhiều học sinh THPT đã hiểu được tầm quan trọng của hai điểm tựa đầu tiên là sự phù hợp năng lực với nghề và hứng thú nghề: hơn 80% số học sinh khẳng định cần phải quan tâm đến những vấn đề này khi lựa chọn ngành nghề. Tuy nhiên, nhu cầu xã hội về nhân lực trong từng lĩnh vực nghề nghiệp lại chỉ được khoảng 1/3 số học sinh chú ý. Như vậy nếu chúng ta hình dung ba điểm tựa nêu trên như ba chân của một cái kiềng - quyết định ngành nghề một cách khoa học, thì trên bình diện nhận thức, với khoảng 2/3 học sinh, cái kiềng đó đã bị lệch, nghĩa là những quyết định lựa chọn ngành nghề dựa trên cơ sở nhận thức như vậy của những học sinh này sẽ không chắc chắn đảm bảo cho các em có những thuận lợi trong tìm kiếm việc làm sau này. Câu hỏi đặt ra là những hiểu biết như trên của học sinh đã có tác động đến việc quyết định lựa chọn ngành nghề của các em trên thực tế như thế nào? Trên cơ sở tự đánh giá của học sinh, có thể thấy việc lựa chọn ngành nghề học sau khi tốt nghiệp THPT của các em có một số điểm nổi bật sau đây: - Hiểu biết của học sinh về những điểm tựa cần chú ý khi lựa chọn ngành nghề không hoàn toàn chi phối hành động thực tế của các em trong lựa chọn ngành học. Tính thực dụng được thể hiện ở khá nhiều em (khoảng 1/2 số học sinh) khi các em xem khả năng dễ tìm được việc làm sau quá trình đào tạo nghề (nhu cầu xã hội về nhân lực trong nghề đã lựa chọn) hoặc triển vọng phát triển của nghề trong tương lai là 1 trong 5 nhân tố quan trọng nhất cần tính đến khi quyết định lựa chọn một ngành nghề nhất định. - Sự lựa chọn ngành nghề chịu sự chi phối bởi định hướng giá trị nghề của các em nhiều hơn là những hiểu biết lý thuyết là phải chọn nghề như thế nào cho khoa học. Những lý do chi phối hành động lựa chọn ngành học khá phù hợp với định hướng giá trị của các em thể hiện trong đánh giá các giá trị của hoạt động nghề nghiệp/việc làm. Thu nhập tốt là lý do được nhiều em lấy làm cơ sở để quyết định sẽ theo học một nghề nào đó nhất (63,6%). Về cơ bản, những lý do xuất phát điểm để học sinh lựa chọn một ngành nghề nào đó thật sự gắn với những giá trị đích thực của nghề nghiệp: Nghề nghiệp có thể đem lại thu nhập, thoả mãn những nhu cầu tinh thần và tạo cơ hội cho mỗi cá nhân đóng góp sức mình cho xã hội. Tính nhàn hạ của công việc hay cơ hội làm việc gần nhà không phải là những giá trị chi phối hành động lựa chọn ngành sẽ học của nhiều em. Cũng không nhiều em bị chi phối bởi mong muốn của bố mẹ (chỉ có 14,0% lựa chọn ngành nào đó do bố mẹ muốn thế), đặc biệt là bạn bè (0,9%). Cơ hội thăng tiến sau này cũng chỉ được khoảng gần 1/5 số em xem là 1 trong 5 lý do quan trọng nhất để em lựa chọn ngành nghề. - Điều đáng chú ý là sự phù hợp giữa năng lực cá nhân với nghề chỉ chi phối hành động lựa chọn nghề của 57,2% số em và hứng thú nghề chi phối 58,7% số em. Hiểu biết của học sinh THPT về những ngành nghề đã lựa chọn sẽ học sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông Theo kết quả khảo sát thì khoảng 2/3 số học sinh có biết sơ sơ về các công việc cụ thể của những người lao động làm trong những ngành nghề mà các em đã chọn hoặc nơi làm việc của những người có chuyên môn ngành đó, khoảng 1/6 biết rõ và ít hơn một chút là không biết gì về những điều này. Tuy nhiên, thực chất của những hiểu biết đó là như thế nào thì chúng ta cũng dề hình dung được, khi mà hiện nay ở nước ta chưa có những tổ chức soạn thảo những hệ thống thông tin chuẩn, chi tiết và bám sát những thay đổi trong quá trình phát triển của các loại ngành nghề trong xã hội. Tóm lại, dù tâm thế hướng nghiệp ở học sinh THPT đã hình thành rõ nét, song định hướng lựa chọn ngành học sau khi tốt nghiệp THPT của các em còn mang tính tự phát là chủ yếu do thiếu sự hướng dẫn của hoạt động tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp. Cảm nhận của sinh viên liên quan đến các ngành nghề mà họ đang theo học. Những trải nghiệm của sinh viên liên quan đến ngành đang học sau khi họ đã có một thời gian học tập ở các trường đại học có thể xem như những chỉ báo chủ quan phản ánh tính đúng đắn của những quyết định lựa chọn ngành nghề của họ khi họ còn là học sinh THPT. Những kết quả thu được từ khảo sát về vấn đề này cho thấy một thực trạng rất đáng quan tâm. Theo khảo sát của Trung tâm tư vấn hướng nghiệp thuộc trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005 thì hơn 50% sinh viên được khảo sát đã cho rằng mình đã không lựa chọn được ngành học phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân. Các kết quả khảo sát của chúng tôi năm 2008 không cho thấy tình trạng sáng sủa hơn. -Chỉ có 37,9% số sinh viên năm thứ 2 được hỏi khẳng định rằng họ nhận thấy càng học càng cảm thấy rằng ngành họ đang học giống với những gì họ đã hiểu về ngành này khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông; -34,7% - nhận thấy ngành đang học phù hợp với năng lực của họ; - 50,5% - cảm thấy hứng thú với ngành đang học; -45,0% - khẳng định sẽ vẫn chọn để được học ngành đang học nếu như ở vào tình huống có cơ hội lựa chọn lại, và - 57,0% - muốn được làm đúng nghề đang học sau khi tốt nghiệp đại học. Số còn lại phần đông cảm thấy khó trả lời về những vấn đề nêu trên hoặc khẳng định những trải nghiệm âm tính liên quan đến những vấn đề đó: -26,3% số sinh viên càng học càng cảm thấy rằng ngành họ đang học không giống với những gì họ đã hiểu về ngành này khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông; -15,3% - nhận thấy ngành đang học không phù hợp với năng lực của bản thân; -10,5% - cảm thấy không hứng thú với ngành đang học; -38,0% - khẳng định sẽ chọn học một ngành khác nếu như ở vào tình huống có cơ hội lựa chọn lại, và - 21,0% - không muốn làm đúng nghề đang học sau khi tốt nghiệp đại học. Những trải nghiệm nêu trên hầu như không có khác biệt khi so sánh những sinh viên đã được vào học trường đại học theo nguyện vọng 1, nguyện vọng hai hay nguyện vọng ba, hoặc nhóm sinh viên đã có những suy nghĩ về ngành nghề đang học ngay từ khi học lớp 10 hay lớp 11, lớp 12. Những số liệu nêu trên không chỉ cho thấy ở vào thời điểm phải lựa chọn ngành học, nhiều học sinh không đủ thông tin hoặc không có những thông tin chính xác về các ngành nghề mà các em đã chọn, về năng lực và hứng thú của bản thân. Những lựa chọn sai lầm về ngành học do thiếu những tri thức và kỹ năng cần thiết đã không tạo ra được ở nhiều em sự hứng thú, gắn bó với nghề. Trước đây, trong một thời gian dài, khi nghiên cứu về năng lực và hiệu quả làm việc của con người, các nhà nghiên cứu hầu như tập trung chủ yếu vào các quá trình nhận thức như tư duy, khả năng tri giác, tưởng tượng, trí nhớ… Nhưng những năm gần đây, khi nghiên cứu xúc cảm như một dạng trí tuệ, nhiều nhà tâm lý học đã đặc biệt chú ý đến vai trò của niềm say mê, hứng thú nghề của người lao động đối với hiệu quả công việc của họ. Trong một cuộc nghiên cứu 200 hoạ sỹ 18 tuổi sau khi họ tốt nghiệp trường mỹ thuật, Csikszentmihalyi nhận thấy rằng chỉ những sinh viên say mê vẽ mới trở thành hoạ sỹ giỏi. Những người được kích thích bởi giấc mơ nổi tiếng hay giàu có, phần lớn đã bỏ nghề sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Hầu như tất cả những người thành đạt trong sự nghiệp đều khẳng định rằng, muốn có được thành tích thì trước hết người lao động phải say mê, hứng thú với lĩnh vực mà họ đang làm. Các kết quả khảo sát thực tiễn cũng cho thấy, trong số những sinh viên cảm thấy ngành đang học phù hợp với năng lực của bản thân hoặc hứng thú với ngành học có tỷ lệ số em gắn bó với nghề (muốn được làm đúng nghề hoặc vẫn lựa chọn ngành đang học khi ở vào tình huống có cơ hội được lựa chọn lại ngành học) cao hơn hẳn tỷ lệ tương ứng trong số những em không hứng thú với ngành học hoặc thấy ngành học không phù hợp với năng lực của bản thân. Chúng ta hãy tưởng tượng nguồn nhân lực tiềm năng đang chuẩn bị thật sự tham gia vào lực lượng lao động của xã hội chỉ sau vài ba năm nữa mà có những trải nghiệm xúc cảm âm tính như vậy đối với ngành nghề đang theo học, có những băn khoăn trăn trở với nghề như vậy thì liệu hiệu quả làm việc của họ sẽ như thế nào? khả năng công hiến của họ cho gia đình, xã hội và cho chính bản thân họ sẽ đến đâu? Rất nhiều nghiên cứu cho thấy tính tích cực nghề nghiệp, hiệu quả làm việc của người lao động phụ thuộc rất nhiều vào những trải nghiệm xúc cảm của họ với lĩnh vực nghề nghiệp mà họ đang làm. Sự thiếu hiểu biết về các loại ngành nghề, về năng lực và hứng thú nghề nghiệp của bản thân đã dẫn đến những lựa chọn sai lầm và điều đó sẽ gây lãng phí không chỉ cho xã hội mà cho chính bản thân các em khi phải bỏ ra khoảng thời gian 4 năm để học một nghề mà các em không thật sự hứng thú và rồi rất có thể sẽ rời bỏ nghề đó sau khi tốt nghiệp. Trách nhiệm trước tình trạng này một phần không nhỏ thuộc về các nhà giáo dục nói chung và giáo dục hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp nói riêng. Nhu cầu của học sinh THPT về tư vấn hướng nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy 78,0% số học sinh nhận thấy cần có cơ sở tư vấn hướng nghiệp cung cấp cho các em những thông tin cần thiết để các em có cơ sở đưa ra các quyết định cho bản thân trong lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT. Càng lên lớp cao hơn thì càng nhiều học sinh THPT thấy cần thiết phải có các cơ sở như vậy: nếu 71,0% số học sinh lớp 10 nhận thấy sự cần thiết này thì tỷ lệ tương ứng ở học sinh lớp 12 là 87,6%. Nhu cầu được học môn giáo dục hướng nghiệp hoặc được hỗ trợ bởi các cơ sở tư vấn hướng nghiệp ở học sinh là khác nhau, bởi đây là những hình thức hướng nghiệp khác nhau. Có lẽ học sinh THPT cũng ý thức được điều này nên ý kiến của các em về sự cần thiết phải có những hoạt động này trong các cấp học khác nhau cũng khác nhau. Mặc dù đa số học sinh cho rằng nên có môn giáo dục hướng nghiệp từ năm học cấp II (55,1%) hoặc cấp III (33,8%), song một tỷ lệ đáng kể học sinh (11,1%) cho rằng môn giáo dục hướng nghiệp nên bắt đầu từ cấp I. Trong khi đó, đối với các cơ sở tư vấn hướng nghiệp thì phần lớn học sinh mong muốn có ở cấp PTTH (62,2%). Những số liệu thu đươc từ khảo sát thực tiễn cho thấy rằng đã đến lúc những người có trách nhiệm cần quan tâm đúng mức đến hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT. Vấn đề không chỉ là đưa ra các quy định định hướng, mà là thật sự triển khai hoạt động này trong thực tiễn. Lê Hương |
![]() |
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Tâm lý học giáo dục - sư phạm · Next Topic » |








2:42 PM Jul 11