| Thăng Long - Hà Nội Nghìn năm Văn hiến và Anh hùng; câu hỏi cuộc thi tìm hiểu | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: 03/02/2010 - 12:06 pm (23,345 Views) | |
| kaka | 03/02/2010 - 12:06 pm Post #1 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
nhằm có thêm tư liệu cho các bạn trả lời câu hỏi. Xem Thêm ở Link sau: >>>ĐÁP ÁN CUỘC THI " THĂNG LONG - HÀ NỘI NGHÌN NĂM VĂN HIẾN VÀ ANH HÙNG" >>>Câu hỏi & đáp án cuộc thi tìm hiểu Thăng Long - Hà Nội nghìn năm Văn hiến và Anh hùng >> ĐÁP ÁN CUỘC THI THĂNG LONG - HÀ NỘI NGHÌN NĂM VĂN HIẾN VÀ ANH HÙNG Văn Miếu - Quốc Tử Giám Mục từ "Quốc Tử Giám" dẫn đến bài này. Xin đọc về các nghĩa khác tại Quốc Tử Giám (định hướng). Toàn cảnh kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám Văn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lý. Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử Giám trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi. n Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông (Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội 1972,Tl, tr.234) chép: "Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.". Như vậy Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 lên ngôi trở thành vua Lý Nhân Tông. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). (Việt sử thông giám cương mục. Nxb. Văn sử địa. 1957) chép: "Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 tháng 4... lập nhà Quốc Tử Giám; tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ vào đó". Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử. Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ "Quý Sửu năm thứ ba(1253)... Tháng 6 lập Quốc Học Viện tô tượng Khổng Tử, Chu công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ... Tháng 9 xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học tứ thư, lục kinh" (ĐVSKTT). Lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm chức Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử Giám. Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử. Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi. Không phải khoa thi nào tiến hành xong đều được khắc bia ngay, không phải bia đã dựng thì vĩnh tồn, không hư hỏng, không mất mát. Từng thời có những đợt dựng, dựng lại lớn, như năm 1653 (Thịnh Đức năm thứ nhất, năm 1717 (Vĩnh Thịnh năm thứ 13). Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn. Dù không còn giữ được đủ bia, nhà bia Trường Giám đã lưu lại về sau rất nhiều những công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu. Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành xây thêm Khuê Văn Các, với một chức năng duy nhất là nơi thờ tự Thánh hiền mà thôi. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m2 trên tổng diện tích 6150m2 gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám. Kiến trúc Bố cục kiến trúc cổ của Văn Miếu - Quốc Tử Giám * Văn Miếu-Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, xưa thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông. Nay thuộc thành phố Hà Nội. Bốn mặt đều là phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54331m2 bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam. * Nhà Thái học sinh đời Lý - Trần quy mô thế nào, hiện chưa khảo được, vì các tư liệu lịch sử không thấy ghi lại. Thời thuộc Minh, nhiều di tích lịch sử văn hoá bị đốt hoặc đưa về Yên Kinh, (Bắc Kinh), nhưng Văn Miếu vẫn được người Minh tôn trọng. Năm Giáp Ngọ (1414) Hoàng Phúc xin với vua nhà Minh cho lập Văn Miếu ở các châu, huyện trong cả nước.[1] * Năm Quý Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483) Lê Thánh Tông, đã thực hiện một đợt đại trùng tu, được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau: Tháng Giêng, mùa xuân sửa nhà Thái học ...Đằng trước nhà Thái học dựng Văn Miếu. Khu vũ của Văn Miếu có điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ chia ra thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết, Một kho để chứa đồ tế khí và một phòng để làm nhà bếp; đằng sau nhà Thái học, dựng cửa Thái học, nhà Minh luân. Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây thì để làm chỗ giảng dạy các học sinh. Lại đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ khắc thành sách; bên đông bên tây nhà Thái học làm nhà cho học sinh trong ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian để làm chỗ nghỉ ngơi của học sinh * Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết vào tháng 11 niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) vua Lê Tương Dực: Sai Nguyễn Văn Lang sửa lại điện Sùng Nho ở Quốc Tử Giám và 2 giải vũ, 6 nhà Minh Luân, phòng bếp, phòng kho, cùng làm mới 2 nhà bia bên đông bên tây, mỗi gian tả hữu đều để 1 tấm bia[2] * Văn Miếu - Quốc Tử Giám nhà Lê đã được Lê Quý Đôn miêu tả trong Kiến văn tiểu lục (sách viết năm 1777) thì: Văn Miếu; Cửa Đại Thành Nhà 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng (ngói ống) ,Đông Vũ và Tây Vũ 2 dãy đều 7 gian, đằng sau cửa nhỏ 1 gian, điện canh phục 1 gian 2 chái, nhà bếp 2 gian, kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái học 3 gian, có tường ngang lợp bằng ngói đồng (ngói ống), nhà bia phía đông và tây đều 12 gian, kho để ván khắc sách 4 gian, ngoại nghi môn 1 gian, xung quanh đắp tường, cửa hành mã ngoài tường ngang 3 gian, nhà Minh Luân 3 gian 2 chái, Cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều 1 gian, có tường ngang. nhà giảng dạy ở phía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và phía tây đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người[3]. Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ (đây là sản phẩm của nhà Hậu Lê) * Hiện nay quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được chia làm ba khu vực chính: 1 là Văn hồ, 2 vườn Giám và 3 là khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám đây là khu chủ thể, bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc Việt Nam (từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19). Văn Hồ Văn hồ ngày nay Phía nam, trước mặt Văn Miếu là hồ Minh Đường hay Văn hồ dân gian thường gọi là hồ Giám. Chính quyền thành phố Hà Nội đã cố gắng giải toả, nhưng hiện nay diện tích cũng chỉ còn được 12297 m2, giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa). Theo ý đồ kiến trúc, đây vốn là cái "tiểu minh đường" của Văn Miếu, là một bộ phận khăng khít của toàn bộ công trình kiến trúc chung. Năm 1863, trong dịp sửa nhà bia Văn Miếu, Văn Hồ đã được một lần tu sửa. Sự việc này còn ghi lại rõ ràng trên tấm bia đá dựng ở gò giữa hồ: Trước miếu có hồ lớn, trong hồ có gò Kim Châu, vào khoảng niên hiệu Cảnh Trị (1668-1671), Tham tụng họ Phạm (Phạm Công Chứ) làm 10 bài thơ vịnh Phán thuỷ để ghi lại cảnh đẹp ... Mùa thu năm Quý Hợi niên hiệu Tự Đức (1863) tôi [4] cùng Cao đài Đặng Lương Phủ (Đặng Tá) dựng đình bia Tiến sĩ và sửa sang khu hồ ... Mùa thu năm Ất Sửu (1865), Đặng sứ quân lại xuất tiền nhà xây một đình trên gò Kim Châu. Đình làm xong gọi là Văn hồ đình. ... . Ngày 12 - 2 - 1998, trong khi nạo vét cải tạo hồ Văn đã tìm thấy tấm bia Hoàn Văn hồ bi, soạn năm Bảo Đại thứ 17 (1942), do cử nhân khoa Quý Mão Hoàng Huân Trung [5] soạn. Điều đặc biệt là mặt sau của bia khắc bản dịch chữ Hán ra chữ Quốc ngữ do đốc học Trần Trọng Kim và Nguyễn Quang Oánh dịch. Cho biết hồ này và cả giải đất chạy suốt chiều dài mé tây của Văn Miếu đều thuộc quần thể khu vực Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 20 do phân cách địa giới hành chính, khu vực Văn Miếu thuộc đất tỉnh Hà Đông. Khi đất Văn Miếu - Quốc Tử Giám trao lại cho tỉnh Hà Nội thì bỏ sót lại khu hồ Văn, vì thế năm 1939 các văn thân nho sĩ tỉnh Hà Nội đệ đơn trình Thị trưởng Hà Nội xin Công xứ toàn quyền Bắc Kỳ trả lại hồ Văn vào địa phận Văn Miếu, văn bia có đoạn viết: Hồ này ở ngoài tường cửa thứ ba Văn Miếu tên là hồ Minh Đường hay là Văn hồ. Hồ rộng 1 vạn chín trăm thước vuông tây, trong hồ có gò tròn tên gọi Kim Châu rộng hai trăm thước vuông tây Một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát, một gò đất nổi giữa hồ trên có một kiến trúc nhỏ đẹp lẩn dưới cành lá sum suê, cảnh này mở đầu cho một khu kiến trúc sẽ trở thành một tấm gương soi, nhân đôi cảnh trí, có tác dụng gây cho khách tham quan cảm giác mát mẻ dịu dàng ngay từ khi mới đặt chân vào khu kiến trúc.[6] * Khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám tôn nghiêm, được ngăn cách với vườn Giám và không gian bên ngoài bằng tường gạch vồ và được chia làm 5 lớp không gian khác nhau, mỗi lớp được giới hạn bởi các tường gạch và có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên với các kiến trúc chủ thể là: cổng Văn Miếu, cổng Đại Trung, Khuê Văn các, cổng Đại Thành, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học. Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:05 pm.
|
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:07 pm Post #2 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
Văn Miếu Môn Văn miếu môn, cổng dẫn vào khu thứ nhất Phía trước Văn Miếu môn là tứ trụ (nghi môn) và hai tấm bia Hạ mã hai bên đó là mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt cổng. Xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia mới lại được lên xe lên ngựa. Thế đủ biết Văn Miếu có vị trí tôn nghiêm tới chừng nào. Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn trên có hình 2 con nghê chầu vào. Quan niệm tâm linh cho rằng đây là vật linh thiêng có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào nhau. Tứ trụ có đôi câu đối chữ Hán: Đông, tây, nam, bắc do tư đạo Công, khanh, phu sĩ, xuất thử đồ Tạm dịch là: Đông, tây, nam, bắc cùng đạo này (đạo Nho) Công, khanh, phu sĩ xuất thân từ đường này Văn Miếu môn tức là cổng tam quan phía ngoài. Cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng. Tầng trên có ba chữ 文廟門 (Văn miếu môn). Kiểu dáng kiến trúc Văn Miếu môn nhiều nét độc đáo rất đáng lưu ý trong khi nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam. Nhìn bên ngoài tam quan là 3 kiến trúc riêng biệt. Cửa chính giữa thực chất xây 2 tầng. Mặt bằng hình vuông. Tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới. Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 3, vua Khải Định bắc tuần có đến chiêm bái Văn Miếu Hà Nội và làm hai bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán, rồi phán cho tỉnh thần Hà Đông khắc vào bia dựng trên gác tam quan. (rất tiếc bia hiện nay không còn, chỉ còn lại bệ bia, hai mặt bệ là hình hổ phù rất đẹp) Nguyên văn hai bài thơ như sau: * Bài thứ nhất Hóa thành nam quốc ái văn hoa, Thánh đạo chân truyền quán bách gia, Tằng vi Bắc phương danh giáo địa, Nghi hồ miếu mạo vĩnh nguy nga. Tạm dịch là: Giáo hoá lan tràn khắp nước ta, Đạo Thánh đứng đầu cả bách gia, Nghe nói Bắc phương văn vật thịnh, Thảo nào Văn Miếu vẫn nguy nga. * Bài thứ hai Thời trung văn giáo nhập Viêm đô, Bách thế tôn sùng đệ nhất Nho, Thử đặc Lý triều lưu cổ tích. Kinh kỳ tự hữu hảo qui mô Tạm dịch là: Thời trung đạo ấy tới Viêm đô, Trăm thủa đề cao nhất đạo Nho, Triều Lý vẫn còn lưu dấu cũ, Kinh thành riêng để một quy mô. Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi rồng đá thời Nguyễn. Hai mặt cổng tam quan Phía ngoài có hai câu đối nề (không rõ niên đại) * Câu đối thứ nhất Đại quốc bất dịch giáo, bất biến tục, thả tôn sùng chi, diệc tín tư văn nguyên hữu tự Ngô Nho yếu thông kinh, yếu thức thời, vô câu cố dã, thượng tư thánh huấn vĩnh tương đôn. Tạm dịch nghĩa là: Nước lớn trong giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn nguyên có gốc. Nhà Nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, những lời thánh huấn phải ghi lòng. * Câu đối thứ hai Sĩ phu báo đáp vị hà tai! Triều đình tạo tựu chi ân, quốc gia sùng thượng chi ý Thế đạo duy trì thử nhi! Lễ nhạc y quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô. Tam dịch nghĩa là: Sĩ phu có nhiều báo đáp, ơn triều đình đào tạo, ý nhà nước tôn sùng. Thế đạo nhờ đó duy trì, chốn lễ nhạc y quan, nơi thanh danh văn vật. [sửa] Đại Trung Môn Đại trung môn Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn. Theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh trước đây hai cổng tả môn và hữu môn ở phía trước và bằng Đại Trung môn, Thánh Dực môn và Đạt tài môn ở phía sau. Hiện nay hai bên là không gian cây xanh và thảm cỏ Bức tường ngang nối ba cửa vươn dài ra hai bên tới tận tường vây dọc bên ngoài. Hai bên tả hữu của cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu môn tạo thành một khu hình gần vuông có tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn. Trong khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng. Hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài. Cảnh này gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi "văn vật sở đô". Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn. Con đường thẳng từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các. Từ hai cửa Đạt Tài và Thành Đức ở hai bên cửa Đại Trung, hai con đường nhỏ hơn song song chạy thẳng với con đường trục giữa, chia khu vực thứ hai này thành 4 dải khá cân bằng. Hai hồ nước được đào ở vị trí tương tự như hai hồ nước ở khu vực thứ nhất. Việc lặp lại một khu vực chỉ có cây có cỏ, việc làm thêm dãy tường ngăn và làm thêm lớp cửa ra vào, được các nhà kiến trúc cho là rất thành công trong ý đồ tạo nên cảnh thâm nghiêm, tĩnh mịch của khu vực kiến trúc. Khuê Văn Các Khuê văn các - Thiên Quang Tỉnh nơi giao hoà của đất, trời Khuê văn các (nghĩa là "gác vẻ đẹp của sao Khuê") là một lầu vuông 8 mái xây dựng vào năm 1805, đời Gia Long triều Nguyễn. Gác dựng trên một nền vuông cao lát gạch Bát Tràng. Kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo. Tầng dưới chỉ là 4 trụ gạch 4 bề trống không. Tầng trên là kiến trúc gỗ trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát. Sàn gỗ có chừa 2 khoảng trống để bắc thang lên gác. Bốn cạnh sàn có diềm gỗ chạm trổ tinh vi. Bốn góc sàn làm lan can con tiện cũng bằng gỗ. Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía. Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và những tia sáng của sao [7]. Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ 奎文閣 (Khuê văn các). Mỗi mặt tường gỗ đều chạm một đôi câu đối chữ Hán thiếp vàng. Cả bốn đôi câu đối này đều rất có ý nghĩa. 1. Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiển - Bích thuỷ xuân thâm đạo mạch trường. 2. Hy triều phấn sức long văn trị - Kiệt các trân tàng tập đại quan 3. Thành lâm Bắc đẩu hồi nguyên khí - Nguyệt tế thu đàm chiếu cổ tâm. 4. Thánh hiền nhất thống đồ thư phủ - Văn hiến thiên thu lễ nghĩa bang. Tạm dịch nghĩa như sau: 1. Sao Khuê trời sáng, văn minh rộng - Sông Bích xuân sâu, mạch đạo dài 2. Triều ta tô điểm nhiều văn trị - Gác đẹp văn hay đón khách xem 3. Bắc Đẩu soi thành nhiều khí tốt - Đầm thu bóng nguyệt sáng lòng xưa 4. Nước lễ nghĩa nghìn năm văn hiến - Phủ đồ thư một mối thánh hiền Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội. Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong in bóng gác. Vườn bia trước khi tu sửa Phân tích. Theo Kinh dịch những con số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) thuộc về dương, biểu hiện sự sinh sôi nảy nở và phát triển, Khuê văn các có 8 mái là bát quái, có thêm 1 nóc ở trên là 9, số cửu trù, số cực dương. [8]Theo quan niệm của người xưa, giếng Thiên quang hình vuông tượng trưng cho mặt đất, cửa sổ hình tròn của gác Khuê văn tượng trưng cho bầu trời, có ý nói nơi đây là nơi tập trung mọi tinh hoa của trời đất, có ý tưởng đề cao trung tâm giáo dục văn hoá Nho học Việt Nam. [9]Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội. * Cửa Bi văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Thành Đức bên trái Bi văn có nghĩa là trang sức nên vẻ đẹp. Ý nói văn chương trau chuốt sáng sủa, có sức truyền cảm thuyết phục con người. * Cửa Súc văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Đạt Tài bên phải Súc Văn có nghĩa là văn chương hàm súc phong phú, có khả năng nuôi dưỡng vẻ đẹp của tâm hồn. Hai cửa này cùng với gác Khuê Văn đồng thời mở đầu cho khu vực thứ hai, khu vực giếng Thiên Quang và hai vườn bia Tiến sĩ. [sửa] Giếng Thiên Quang, Bia Tiến sĩ Toàn cảnh Thiên quang tỉnh (nhìn từ gác Khuê Văn), hai bên là hai khu nhà bia, phía cuối hình là Đại thành môn dẫn vào không gian thứ ba Nhà bia Bia tiến sĩ khoa thi nho học năm Nhâm Tuất (1442) Thiên Quang tỉnh (tức "giếng soi ánh sáng bầu trời") còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn). Thiên Quang nghĩa là ánh sáng bầu trời. Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa còn có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời cả đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế đô này. Một con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép người ta có thể dạo quanh giếng, lên gác Khuê Văn, vào cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2 bên. Nhưng có lẽ di tích có giá trị bậc nhất ở đây là 82 tấm bia Tiến sĩ dựng ở hai bên phải trái của giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 tấm dựng thành 2 hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng. Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông, 4 mặt bỏ trống, nền cao, giữa nền có bệ, cửa đều trông thẳng xuống giếng. Đây là hai tòa đình thờ bia. Xưa kia hàng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cũng sửa lễ vật cúng bái các vị tiên nho của nước ta mà quý tính cao danh còn khắc trên bia đá. Trong 82 tấm bia còn lại tới ngày nay, tấm sớm nhất dựng vào năm 1484, khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuối cùng dựng vào năm 1780, khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779). Từ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 tới khoa cuối cùng là khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất 1787 tính cho đủ phải tới 124 khoa thi đình, nếu chỉ kể các khoa thi Tiến sĩ, không kể các khoa Đông Các và Chế khoa thì cũng phải 117 khoa, vậy nếu theo đúng điển lệ triều Hậu Lê thì phải lập đủ 117 tấm bia đề tên Tiến sĩ. Thế nhưng trải qua bao cơn binh lửa, vật đổi sao dời, số bia chỉ còn là 82 tấm. Nhiều tấm bia nọ lắp vào rùa kia, nhiều tấm nứt vỡ phải gắn chắp lại. Khi quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long đã làm hư hại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Nông dân trại Văn Chương xin Nguyễn Huệ dựng lại bia đề tên Tiến sĩ trong nhà Giám viết rằng: Bia Tiến sĩ dựng trong Văn Miếu Khởi từ năm Đại Bảo thứ ba Xí vào Nhâm Tuất hội khoa Thái Tông ngự trị thuộc nhà Hậu Lê Rồi từ đó lệ về Quốc Giám Trải ba trăm ba mươi tám năm ròng Đến năm thứ 40 niên hiệu Cảnh Hưng vua Hiển Tông Là khoa Kỷ Hợi cuối cùng hết bia Tính gồm lại số bia trong Giám Cả trước sau là tám mươi ba Dựng theo thứ tự từng khoa Bia kia sáu thước cách xa bia này Nhà bia đủ đông tây 10 nóc Vuông bốn bề ngang dọc bằng nhau Mỗi bề hai chục thước tàu Cột cao mười thước có lầu chồng diêm Coi thể thế tôn nghiêm có một Cửa ra vào then chốt quan phòng Bốn quan nhất phẩm giám phong Ba cơ, bảy vệ canh trong canh ngoài Bia mới dựng đầy 2 nóc trước Tám nóc sau còn gác lưu không Năm năm chờ đợi bảng rồng Các quan bộ Lễ, bộ Công chiếu hành [10] Lời thơ vua Quang Trung ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Tháng 4 năm 1976 Viện Khảo cổ học phối hợp với phòng Bảo tồn bảo tàng, sở Văn hóa Thông tin Hà Nội đã khai quật được một con rùa đá đế bia chìm sâu dưới lòng hồ cạnh Khuê Văn Các. Thân bia chưa thấy, song sự việc này đã nâng số bia Tiến sĩ lên con số 83. Những năm thực dân Pháp xâm lược rồi tạm chiếm Hà Nội, 2 vườn bia có lúc hoang vắng, cỏ cao lút đầu. [11] Hiện nay 2 vườn bia đã được tu sửa lại theo mẫu sửa nhà bia cuối cùng vào niên hiệu Tự Đức năm thứ 16 (1863), do Bố chính Hà Nội là Lê Hữu Thanh cùng với thự Hậu quân Đô thống, Tổng đốc Hà Ninh là Tôn Thất Hân và Án sát Hà Nội là Đặng Tá khởi xướng làm 2 nhà bia mỗi nhà 11 gian để che mưa nắng cho các di vật quý giá này. Nội dung được ghi rõ trong 2 tấm bia dựng ở bên trái sân Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám (xem phần trích trong mục Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám) [sửa] Đại Thành Môn, khu điện thờ Qua cửa Đại Thành là vào không gian thứ ba, khu vực chính của di tích Quốc Tử Giám - Văn Miếu. Cũng như cửa Đại Trung, cửa Đại Thành là một kiến trúc 3 gian với hai hàng cột hiên trước sau và một hàng cột giữa. Chính giữa, trên giáp nóc có treo một bức hoành khắc 3 chữ 大成門 (Đại thành môn) theo chiều ngang, đọc từ phải sang trái. Bên phải hai hàng chữ nhỏ dọc khắc Lý Thánh Tông, Thần Vũ nhị niên, Canh Tuất thu, bát nguyệt phụng kiến có nghĩa là: "Tháng 8 mùa thu năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ năm thứ 2 đời Lý Thánh Tông vâng sắc xây dựng" [12]. Bên trái một hàng chữ dọc khắc: Đồng Kháng tam niên, Mậu Tý trọng đông đại tu có nghĩa là "Tháng 11 năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 3 đại tu". [13] Bức hoành sơn thiếp giản dị, là sản phẩm của năm 1888, song nó là minh chứng cho một lần tu sửa lớn vào thời Đồng Khánh nhà Nguyễn, và cũng là một bằng cứ gián tiếp cho năm khởi dựng Văn Miếu vào thời vua Lý Thánh Tông. Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao), mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v... và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào có ý nghĩa hay hơn. Hai cửa nhỏ theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh là Kim Thành bên phải và Ngọc Thành bên trái, hiện nay là Kim Thanh môn và Ngọc Chấn môn nằm ngang với cửa Đại Thành, song 2 cửa này không mở vào thẳng khu vực chính, mà để đi qua con đường lát gạch phía sau 2 dãy Tả Vu và Hữu Vu để tiếp tục qua sang khu Khải Thánh phía cuối cùng của di tích. Bái đường Văn Miếu Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mang lát gạch Bát Tràng. Hai bên phải trái của sân là 2 dãy Hữu Vu và Tả Vu. Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu , Hữu Vu 2 bên, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và thuyền thống. Sau Đại Bái Đường, song song với Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện, có quy mô tương tự cả về chiều cao lẫn bề rộng. Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu Đình hình vuông. Nếu tách riêng cụm 3 kiến trúc này ra mà nói thì chúng được xây dựng theo hình chữ công mà Tiểu đình chính là nét sổ giữa và Đại Bái Đường, Thượng Điện là 2 nét ngang trên và dưới. Thượng Điện ở phía sau 9 gian, tường xây 3 phía, phía trước có cửa bức bàn đóng kín 5 gian giữa, 4 gian đầu hồi có cửa chấn song cố định. Nhìn chung Thượng Điện kín đáo và do đó cũng tối hơn Đại Bái, đó cũng là ý đồ của công trình sư muốn tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch và họ đã thành công mỹ mãn. Nơi đây là nơi thờ những vị tổ đạo Nho. Gian chính giữa có cái khám và ngai lớn để trên một bệ xây, trong có bài vị Chí thánh tiên sư Khổng Tử. Cách 2 gian 2 bên tới những gian khác cũng có bệ xây và cũng có khám, trong khám có ngai và bài vị. Bên trái có 2 ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử; bên phải có 2 ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Bốn vị được thờ trên đây tức là Tứ phối được quy định thờ từ ngày mới xây dựng Văn Miếu. Ngoài bài vị ra cả 4 vị đều có tượng gỗ sơn thiếp rất uy nghi. Hai gian đầu hồi cũng có 2 khám lớn xếp chầu vào gian giữa, thờ Thập Triết gồm những vị: Mẫu tử, Nhiễm tử, Đoan mộc tử, Trang Tử, Bốc tử, Hữu tử, Tề tử, Ngân tử, Suyền Tôn tử, Chu tử. Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây 9 gian, nhưng chỉ xây 2 tường hồi còn mặt trước mặt sau để trống. Tòa Đại Bái này có chức năng hành lễ trong những kỳ tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống. Tại đây treo khá nhiều hoành phi câu đối. Bức hoành gian giữa khắc 4 chữ Khang Hi ngự thư và Đồng Khánh Mậu Tý trọng đông thuận đề (1888) Cũng như Thượng Điện, Đại Bái đường mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, kẻ bảy giản đơn không chạm trổ cầu kỳ, chồng đấu làm theo kiểu đấu đỡ cột chồng rất Việt Nam, khác hẳn với phong cách kiến trúc đồng thời của những công trình ở các nước láng giềng. [sửa] Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám Khổng Tử (551TCN - 479TCN) Tượng thờ trong điện Đại thành được làm năm 1729 [14] Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích. Từ Văn Miếu sang đến Khải Thánh người ta có thể đi theo 2 con đường lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu Vu, hoặc cũng có thể từ sau lưng Thượng Điện qua cửa tam quan. Cửa này là cửa chính cũng xây 3 gian, có mái lợp và cánh cửa đóng mở. Từ bên ngoài vào đền Khải Thánh cũng có thể qua một cổng nhỏ có cánh mở ở góc Đông Nam nơi tiếp giáp với bức tường ngăn 2 khu Văn Miếu và Khải Thánh. Đền Khải Thánh là nơi thờ cha mẹ Khổng Tử tức là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị. Phần nửa diện tích của khu này là sân phía trước. Sân bị con đường lát gạch ngăn đôi dẫn từ cửa tam quan lên chính giữa đền thờ. Nửa sân bên trái có 2 tấm bia ghi đại lược như sau: Thăng Long là nơi đô thành cũ; là nhà Thái Học xưa. Hai bên cửa Văn Miếu có dựng bia đề tên Tiến sĩ, bắt đầu từ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo, tới khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng, nay hiện còn 82 tấm, đó chỉ là một số nhỏ. Trong thời gian từ đó tới nay gió táp mưa sa, cỏ lấp rêu phong, có tới hơn 20 tấm chữ khắc bị mòn, lỏng chỏng mỗi nơi mỗi tấm, phần nhiều sứt mẻ không thể đọc được hết. Tôi là Thanh đến làm quan ở đây, vẫn thường muốn làm việc ấy. Mùa thu năm nay, công việc đỡ bận, tôi bàn với quan tổng đốc và quan án sát, bàn cách làm nhà ngói mỗi bên 2 tòa nhà, mỗi tòa 11 gian. Tấm bia nào đổ lỏng chỏng thì đem xếp lại, mặt bia nào bị sứt sở thì đem so sánh mà khắc lại. Cất giữ lấy vết tích xưa vậy.... Thật sự 2 tấm bia này cũng là những tư liệu quý. Kiến trúc đền Khải Thánh sơ sài hơn song cũng có Tả Vu, Hữu Vu 2 bên và đền thờ ở giữa. Đền Khải Thánh xưa vốn là Quốc Tử Giám, nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại. Năm 1946 quân Pháp đã bắn đại bác phá hủy sạch không còn lại một kiến trúc nào. Kiến trúc ngày nay là hoàn toàn mới. Toàn bộ mái đều được lợp hai lớp ngói lót, trên là một lớp chì dày 1,5mm rồi đến một lớp ngói lót nữa, và trên cùng là ngói mũi hài. Phần giữa các cột nhà với chân đá tảng cũng đặt một tấm chì dày 1,5mm để chống ẩm từ dưới lên. Nền sân đều được lát gạch bát kích thước 30x30x4cm. Xung quanh nhà đều được bó vỉa bằng đá xanh. Quy mô kiến trúc khu Thái Học mới rất bề thế, trang nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước. [sửa] Nhà Tiền đường, Hậu đường Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An (1292-1370) Tượng bằng đồng, cao 2,3m, nặng 3 tấn, đúc năm 2003 Đây là công trình xây dựng hoàn toàn mới do Trung tâm thiết kế tu bổ di tích - Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế kỹ thuật, nằm trong công trình trùng tu khu Thái Học khởi công xây dựng ngày 13 - 7 - 1999. Nhà Tiền đường 9 gian với 40 cột gỗ lim chống mái, đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài để trần không trát. Gian đầu hồi và gian thứ ba mặt trước, mặt sau đều có cửa bức bàn chấn song con tiện dẫn sang nhà Hậu đường. So với nhà Bái đường của khu Văn Miếu, cột cái của nhà Tiền đường đều to và cao hơn, đường kính cột là 0,48m, chiều cao cột là 7m. Tiền đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo ngày nay, đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, văn hoá nghệ thuật dân tộc. Ống muống nối Tiền đường với Hậu đường vào với nhau và có hai cửa sang nhà chuông, nhà trống. Hậu đường là kiến trúc gỗ hai tầng, tầng 1 gồm 9 gian, 2 chái với 72 cột gỗ lim, trong đó 8 cột cái cao 11,5m đường kính 0,56m. Hai đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài cũng để trần không trát. Phía trước là cửa bức bàn chấn song con tiện, xung quanh là vách đố lụa. Gian đầu hồi mặt sau, gian thứ 3 và gian thứ 7 mặt trước là cửa sổ chấn song con tiện. Tầng một là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dục Nho học Việt Nam giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, đề cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Tầng 2 có 5 gian xung quanh là vách đố lụa, mặt trước có 5 cửa và mặt sau có 4 cửa để ra lan can phía trước và sau. Tầng 2 là nơi tôn thờ các danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam. Đó là các vị Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông. * Năm 1954 sau ngày tiếp quản Thủ đô, cơ quan chủ quản ngành văn hoá Hà Nội trùng tu lại hai dãy Đông vu, Tây vu ở hai bên sân Đại bái. * Ngày 28 - 4 - 1962, Bộ văn hoá đã công nhận xếp hạng là khu di tích lịch sử cấp Nhà nước. * Ngày 25 - 4 - 1988, thành lập Trung tâm hoạt động văn hoá khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám có chức năng quản lý tu bổ, tôn tạo di tích cho xứng đáng với danh tiếng và vai trò trong lịch sử phát triển nền văn hoá giáo dục của dân tộc. * Năm 1991: Tu bổ điện Đại Thành và cải tạo toàn bộ hệ thống thoát nước. * Năm 1992: Nạo vét cạp lại 4 hồ nhỏ ở khu vực thứ nhất và thứ hai. * Năm 1993: Tu bổ thảm cỏ cây xanh, thay đất trồng lại cỏ, xây dựng nhà vệ sinh, nhà kho ở sau dãy hữu vu phía Tây. * Năm 1994: Xây dựng lại 8 nhà che bia, sắp xếp bia Tiến sĩ, mỗi bên 4 dãy, mỗi dãy 10 bia. Đặt bia của 2 khoa thi 1442 và 1448 vào giữa hai toà đình bia, đồng thời sửa chữa toàn bộ đường đi trong khu di tích, nạo vét giếng Thiên Quang. * Năm 1995: Lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng, tu bổ tường bao từ khu thứ nhất đến khu thứ tư của Văn Miếu, Tu sửa nhà Bái đường, Cổng Đại Trung, cổng Đại Thành, Khuê Văn Các, cổng Thái Học, sơn son thiếp vàng toàn bộ các cột , cổng, hoành phi câu đối của khu di tích. * Ngày 13 - 7 - 1999 Khởi công xây dựng khu Thái Học làm nơi tôn vinh truyền thống văn hoá dân tộc. Đây là công trình kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội * Ngày 8 - 10 - 2000 làm lễ khánh thành. [15] * Trong đợt đại trùng tu (1990-2000) hai đơn vị thi công là: Công ty Tu bổ di tích và thiết bị văn hoá Trung ương và Công ty xây dựng và phục chế công trình văn hoá Hà Nội. Đã làm theo mẫu thiết kế của Công trình xây dựng khu Thái Học, Trung tâm thiết kế tu bổ di tích- Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế mỹ thuật. Đã tham khảo Khổng Miếu Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, quê hương Khổng Tử. Thiết kế quy hoạch theo ý nghĩa là một nơi di tích trung tâm văn hoá nho học. Đánh giá * Khổng Tử là người Trung Quốc, Nho giáo là sản phẩm bắt nguồn từ Trung Quốc. Chế độ dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử cũng do người Trung Quốc chế định. Việc dựng Văn Miếu ở Việt Nam tất không thể không phỏng theo chế độ Trung Hoa. Song sự khác biệt giữa Văn Miếu Việt Nam và Văn Miếu Trung Quốc lại rất lớn và rất rõ ràng. Văn Miếu Hà Nội vai trò của nó không chỉ là một nhà quốc tế mà nó còn là một nhà quốc học. * So sánh với kiến trúc thờ Khổng Tử ở Khúc Phụ, Trung Quốc, ta dễ thấy những điểm dị đồng. Cả 2 nơi Khúc Phụ và Hà Nội đều có những kiến trúc mang tên chung như Đại Trung môn, Đại Thành môn, Khuê Văn Các v.v... Thế nhưng điểm giống nhau chỉ là tên gọi mà thôi. * Nhìn chung bố cục kiến trúc ở Khúc Phụ quy mô lớn hơn, Kiến trúc chủ thể sắp xếp trên trục Bắc Nam là: Kim Thanh Ngọc Chấn phường, Linh Tinh môn, Thánh Thời môn, cầu Bích Thuỷ, Hoằng Đạo môn, Đại Trung môn, Khuê Văn các, Đại Thành môn, Hạnh đàn, Đại Thành điện, Tẩm điện, Thánh Tích điện, đối xứng hai bên là các cổng nhỏ, lầu gác, Thi Lễ đường và các nhà bia ... Khải Thánh điện ở bên Tây của điện Đại Thành ... với kiểu dáng kiến trúc chồng diêm, chồng rường đòn bẩy tô vẽ màu sắc rực rỡ, kiến trúc rậm rì hơn. Kiến trúc ở Hà Nội quy mô nhỏ hơn, đi từ đầu tới cuối chỉ qua 5 cổng, kiến trúc thoáng hơn song cảnh trí xung quanh như cây cối, hồ nước, thanh nhã, phong quang thì rõ ràng hơn hẳn. * Nếu đi sâu vào từng kiến trúc từ cột kèo, chồng đấu, cho tới những bức ván chạm trổ thì một Trung Quốc, một Việt Nam không sao lẫn nổi. * Cho dù bóng dáng kiến trúc thời Lý, Trần nay không còn dấu vết nơi đâu, phần lớn kiến trúc đều là sản phẩm của thời Lê mạt, song Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội vẫn giữ được trọn vẹn giá trị của một khu di tích kiến trúc cổ Việt Nam xứng đáng được bảo tồn mãi mãi. Ý nghĩa Về mặt di tích mà nói thì 2 nhà bia Tiến sĩ ở 2 bên giếng Thiên Quang là nơi bảo tồn những di tích quý nhất của cả khu di tích lịch sử này. 82 tấm bia Tiến sĩ hiện còn có giá trị về nhiều mặt. Đây là những tư liệu văn tự quý giá. nguồn (wikipedia.) Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:03 pm.
|
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:09 pm Post #3 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
Câu 7, Hoàng thành Thăng Long có giá trị nổi bật toàn cầu Hoàng thành Thăng Long có giá trị nổi bật toàn cầu - Phải bàn giao càng sớm càng tốt để nhất thể hóa quản lý, việc này đang được đẩy nhanh tiến độ. Hà Nội đã thỏa thuận được với Bộ QP những vị trí để di chuyển, còn thời gian cụ thể thì hai phía đều phải nỗ lực phấn đấu... Dấu vết nền cung điện thời Lý ở Hố A20 - Di tích Hoàng Thành Thăng Long Chụp lại từ cuốn Hoàng Thành Thăng Long, quà tặng cho các đại biểu quốc tế tham dự Hội nghị APEC 2006. 29/9/2008, UNESCO đã tiếp nhận Hồ sơ đăng ký Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (HTTL) là Di sản văn hóa thế giới. Hồ sơ nộp trước hạn đúng 1 ngày (30/9/2008 là hạn cuối cùng) là niềm vui lớn không chỉ cho những người đã ngày đêm cố gắng vì HTTL, mà còn cho những người yêu lịch sử, yêu văn hóa nước nhà. Bởi HTTL mới chỉ được công nhận là di tích quốc gia vào cuối năm ngoái (28/12/2007), và phần di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu hiện tại vẫn chưa thuộc quyền quản lý của UBND thành phố Hà Nội. Phức tạp hơn, có tới hai đơn vị quản lý phần diện tích này, là Bộ Xây dựng (quản lý đất vì thuộc dự án xây dựng Nhà Quốc hội) và Viện Khảo cổ học Việt Nam (quản lý nghiên cứu, khai quật khảo cổ). Đã có lúc, tưởng như việc đăng ký hồ sơ sẽ phải lùi lại, bởi có những ý kiến muốn chờ công trình Nhà Quốc hội hoàn tất mới tiến hành lập hồ sơ. Khu Trung tâm HTTL luôn được coi là công trình văn hóa tiêu biểu nhất, được trông đợi nhất, và đúng nhất với tính chất chiều dài lịch sử 1000 năm. Hồ sơ được tiếp nhận, Hà Nội tiến thêm một bước đến hy vọng có di sản văn hóa thế giới quý giá vào đúng dịp kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. VietNamNet đã trao đổi với TS Nguyễn Văn Sơn, GĐ Giám đốc trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội nhân cột mốc này. Đã có những thời điểm, việc nộp hồ sơ đúng thời hạn là "nhiệm vụ bất khả thi", bởi thời gian quá gấp rút, bởi việc nghiên cứu vẫn đang tiến hành,... Là người trực tiếp chịu trách nhiệm, ông có chịu nhiều áp lực không? - Quả thật, việc hoàn thành hồ sơ đúng hạn là cuộc chạy đua, nhưng chúng tôi luôn xác định phải đến đích, vì đăng ký di sản văn hóa thế giới không chỉ là chuyện nội bộ, mà còn là thể diện quốc gia, vì Nhà nước Việt Nam đã có đề nghị đưa khu di tích vào dự thảo danh sách DSVHTG từ 21/6/2006, đã có cam kết của tổng GĐ UNESCO với Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải. Việc soạn thảo hồ sơ được sự tham gia trực tiếp, góp ý kiến chi tiết, sát sao không chỉ của các chuyên gia trong nước, mà cả các chuyên gia của UNESCO. Họ tận tình giúp ta vì chính họ bị thuyết phục bởi những giá trị lớn của tự thân di tích. Rất mừng vì sau khi hoàn thành, dù chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng hồ sơ được đánh giá là tổ chức khoa học nhất, hình thức trình bày đẹp. HTTL được đăng ký theo tiêu chí 2, 3 và 6 trong "Hướng dẫn thi hành công ước quốc tế". Vậy đâu là tiêu chí quan trọng nhất, là giá trị tiêu biểu "độc nhất vô nhị" của HTTL so với các kinh thành khác trên thế giới? - Ba tiêu chí liên quan mật thiết với nhau. Đây là trung tâm quyền lực, kéo dài từ giai đoạn tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ từ thế kỷ VII đến IX), như Chiếu dời đô của Thái tổ Lý Công Uẩn đã viết là "về thành cũ của Cao Vương". Liên tục là kinh đô qua các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ, ngay cả triều Nguyễn dời kinh đô vào Huế thì Thăng Long vẫn là Bắc thành, và người Pháp vẫn chọn xây dựng Phủ toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội. "Tiêu chí quý giá nhất, HTTL là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa kéo dài hơn 1000 năm, đến giờ vẫn là thủ đô. Những phát lộ khảo cổ học thời gian qua minh chứng rằng, chúng ta có cả kho tàng di sản vĩ đại trong lòng đất, quá trình nghiên cứu còn rất lâu dài, và cần nhiều sự trợ giúp của quốc tế." Vì là trung tâm quyền lực, chính trị nên nơi đây tiếp thu ảnh hưởng những luồng tư tưởng lớn của thời đại bấy giờ: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, kết hợp với nền tảng văn hóa truyền thống, để tạo nên một Thăng Long hội nhập rất nhiều yếu tố tinh hoa văn hóa khu vực, thế giới vào đây. Sau này còn tiếp thu ảnh hưởng văn hóa phương Tây (Pháp, Đông Âu), rồi có cả ảnh hưởng văn hóa Chăm. Những di vật khai quật được ở đây thể hiện sự giao thoa văn hóa rất phong phú, là tiêu chí cơ bản làm nên giá trị nổi bật toàn cầu. Tiêu chí quý giá nhất, HTTL là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa kéo dài hơn 1000 năm, đến giờ vẫn là thủ đô. Những phát lộ khảo cổ học thời gian qua minh chứng rằng, chúng ta có cả kho tàng di sản vĩ đại trong lòng đất, quá trình nghiên cứu còn rất lâu dài, và cần nhiều sự trợ giúp của quốc tế. Liệu việc xây nhà Quốc hội sát cạnh di tích có ảnh hưởng đến việc được công nhận di sản văn hóa thế giới không? - Về nguyên tắc, lõi di sản được xác định trừ phần xây Nhà Quốc hội, với diện tích do Bộ Chính trị - Chính phủ - Quốc hội quyết định. Phần diện tích đăng ký di sản hiện nay so với quy mô của Hoàng thành Thăng Long là rất nhỏ, dưới 1/5 diện tích. Nhưng đây là phần có giá trị lớn nhất, đậm đặc nhất. Quan điểm của Đảng, Chính phủ là vừa xây dựng NQH, vừa đảm bảo hồ sơ di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận. Phải đạt được cả 2 mục đích, nên không lấy cái này để loại trừ cái kia. Có nhiều hình thức để bảo quản, giữ gìn di sản. Trên cơ sở những khuyến cáo của UNESCO, tôi tin ta sẽ tìm ra được những giải pháp hợp lý để dung hòa. Tạm dừng phần việc xây dựng hồ sơ, chờ phản hồi của UNESCO (vào 15/11/2008) để tiếp tục chỉnh sửa. Dư luận cũng rất quan tâm đến việc bàn giao những phần diện tích thuộc quản lý của Bộ Quốc phòng, để Hà Nội có thể tiếp quản, chỉnh trang? Trong hồ sơ trình UNESCO có lộ trình cụ thể của việc bàn giao không? - Đúng là phải bàn giao càng sớm càng tốt để nhất thể hóa quản lý, việc này đang được đẩy nhanh tiến độ. Hà Nội đã thỏa thuận được với Bộ QP những vị trí để di chuyển, còn thời gian cụ thể thì hai phía đều phải nỗ lực phấn đấu, Trong hồ sơ chúng ta đã trình bày rõ hiện trạng, và tiến trình triển khai các bước tiếp theo. Hà Nội và Bộ QP đang quyết tâm giải phóng phần diện tích phía trước (từ cửa Đoan Môn ra phía đường Điện Biên Phủ), riêng Bảo tàng Lịch sử quân sự thì cần thời gian lâu hơn để chuyển địa điểm. Nhận bàn giao đến đâu, chúng tôi sẽ tiến hành tháo dỡ những công trình không có giá trị, chỉnh trang cảnh quan. Riêng việc tu bổ, tôn tạo phải là quá trình dài, phụ thuộc vào quá trình và kết quả nghiên cứu, không thể là ý chí chủ quan. "Nguyên tắc là tôn trọng di tích gốc; đảm bảo cảnh quan môi trường, tạo ra sự hấp dẫn; và hài hòa với quy hoạch chung, đảm bảo tính trước mắt và yêu cầu phát triển lâu dài." Việc tháo dỡ những công trình không có giá trị, chỉnh trang phần diện tích đang thuộc quyền quản lý của trung tâm đã bắt đầu chưa, thưa ông? - Việc này đã triển khai từ 24/9/2008, và sẽ kết thúc vào 1/2009. Trước mắt sẽ tháo dỡ 48 công trình đã được hội đồng tư vấn thẩm định là không có giá trị. Sau khi tháo dỡ sẽ chỉnh trang cho sạch đẹp, đường đi lối lại, mỹ quan ổn định. Dự án chỉnh trang đang được nghiên cứu để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong năm 2009 sẽ chỉnh trang xong trong khu vực đã được bàn giao. Nguyên tắc là tôn trọng di tích gốc; đảm bảo cảnh quan môi trường, tạo ra sự hấp dẫn; và hài hòa với quy hoạch chung, đảm bảo tính trước mắt và yêu cầu phát triển lâu dài. Bao giờ ta sẽ có quy hoạch tổng thể cho toàn bộ diện tích của Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long? Liệu năm 2010, người dân Hà Nội có được "chiêm ngưỡng" bản quy hoạch này? Thông tin rằng những hiện vật khai quật được sẽ được trưng bày ở Bảo tàng Hà Nội có đúng không, thưa ông? - Đó là cột mốc đặt ra để phấn đấu, nhưng chúng tôi chưa dám khẳng định sẽ làm được, bởi còn nhiều khó khăn trong việc bàn giao, chưa phải một đơn vị quản lý toàn bộ diện tích của di tích nên việc nghiên cứu cũng hạn chế. Riêng thông tin trên không chính xác, vì trong khuôn viên của Khu di tích sẽ có một bảo tàng để trưng bày toàn bộ hiện vật khai quật được, đó mới là cách làm theo chuẩn quốc tế. Ba tiêu chí của Công ước di sản thế giới mà Hoàng Thành Thăng Long đạt được gồm: - Di sản có khả năng biểu đạt sự giao thoa lớn giữa các giá trị nhân văn trong một giai đoạn lịch sử hoặc trong một vùng văn hóa của thế giới, biểu đạt sự phát triển của kiến trúc, công trình nghệ thuật kỳ vĩ. - Di sản có ý nghĩa như một minh chứng duy nhất hoặc ít nhất cũng là đặc thù của một truyền thống văn hóa. - Di sản có mối liên hệ trực tiếp với những sự kiện hay truyền thống còn hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, với các tác phẩm nghệ thuật và văn học có giá trị nổi bật toàn cầu. Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:06 pm.
|
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:14 pm Post #4 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
Quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Thủ Đô ngày 10/10/1954 qua những cửa ô nào? Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn Theo bản đồ Hà Nội năm Minh Mạng 12 (1831) thì Hà Nội có 16 cửa ô, đặt tên theo làng theo tổng. Mỗi cửa ô thời ấy có lẽ là một chiếc cổng ngày mở đêm đóng bởi mỗi phường như một làng, khép kín, có cây có rào, có tuần đinh canh phòng để ngăn ngừa đạo chích và dè chừng hoả hoạn. Người Hà Nội từ giữa thế kỷ XX trở đi đã không còn nhiều người biết đến những cửa ô đã mai một vào thời gian, chìm đi trong quá khứ. Những cửa ô đó là: Tây Luông (sau Nhà hát Lớn), Thuỵ Chương (đầu Quán Thánh-Thuỵ Khuê), ông Yên (Hàng Cau-Hàng Bè), Mỹ Lộc (đầu Hàng Bạc), Trừng Thanh (Hàng Mắm), Phúc Lâm (Hàng ậu), Thạch Khối (Hàng Than), Yên Tỉnh (dốc Hàng Than), Nhân Hoà (Hàn Thuyên).... chỉ còn được biết mang máng như những hoài niệm đẹp. Những cái tên còn được nhiều người biết đến ngày nay là những cửa ô Yên Phụ, ổng Lầm, Chợ Dừa, Cầu Dền, ống Mác, Cầu Giấy... và cửa ô còn lại cái cổng duy nhất: Ô Quan Chưởng. Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ tiến vào tiếp quản thủ đô Hà Nội năm 1954. Đúng 8 giờ sáng ngày 10-10-1954, bộ binh của đại đoàn này đã ào ạt tiến vào Hà Nội từ ba hướng: bắc, tây và nam. Tuyến hành quân theo các hướng đi qua một vài cửa ô. Từ hướng bắc, Tiểu đoàn Bình Ca tiến vào Cầu Đuống. Một đoàn xe GMC và 3 xe bọc thép của quân Pháp chở quân ta đến Ban Liên hiệp đình chiến đóng tại Nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện 108). Từ hướng tây, các cán bộ, chiến sĩ của Đại đoàn 308 quân phục chỉnh tề, huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ” cài trên ngực áo trở về trong lòng nhân dân Hà Nội, giữa một rừng cờ hoa trong sự đón mừng nồng nhiệt của đồng bào. Anh hùng Nguyễn Quốc Trị, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô và Tiểu đoàn truởng Tiểu đoàn 54 Trần Đông dẫn đầu đội hình bộ binh tiến từ khu vực Mai Dịch, qua Ô Cầu Giấy, Kim Mã, Hàng Đẫy, vườn hoa Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Gai ra Bờ Hồ, qua Hàng Đào, chợ Đồng Xuân, Hàng Đậu, Cửa Bắc vào thành Hà Nội. Từ phía nam, một đội hình bộ binh khác gồm Trung đoàn Tu Vũ và Đại đoàn Bộ do Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tu Vũ chỉ huy, từ Việt Nam học xá lần lượt tiến qua Bạch Mai, phố Huế, ra Tràng Tiền rồi vòng về khu vực Đồn Thủy. Tiến sau đội hình bộ binh là đội hình cơ giới. Hơn 100 xe Mô-lô-tô-va nước sơn màu lá mạ còn mới tinh, cánh cửa in phù hiệu sao vàng trên nền đỏ, nối đuôi nhau tiến vào nội thành. Trên xe, các chiến sĩ ngồi ngay ngắn, súng dựng trên sàn, lưỡi lê tuốt trần sáng loáng. Dẫn đầu đội hình cơ giới là một đoàn xe com-măng-ca mui trần. Trên xe đầu tiên, Tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Đại đoàn 308, Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố giơ tay chào đồng bào. Tiếp theo đó là xe của Bác sĩ Trần Duy Hưng, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính, rồi đến xe của các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Đại đoàn: Chính ủy Song Hào, Đại đoàn phó Cao Văn Khánh. Sau đoàn Mô-lô-tô-va chở bộ binh là đội hình pháo binh. Những khẩu đội pháo cao xạ nòng súng vươn thẳng trời cao, cùng với các chiến sĩ ngồi nghiêm trang trên mâm pháo. Đoàn quân đi đến đâu là tiếng reo hò nổi lên như sóng dậy. Đường phố rực màu cờ, chật ních người. Những gương mặt rạng rỡ, nụ cười, ánh mắt, vẫy tay, những giọt lệ... Buổi chiều ngày 10-10-1954 diễn ra lễ chào cờ lịch sử. Lá cờ Chiến thắng của Tổ quốc tung bay trên đỉnh cột cờ. Trời thu Hà Nội xanh ngắt, điểm một sắc cờ đỏ thắm tựa bông hoa. Trên sân vận động Măng-gianh (nay là sân vận động của Câu lạc bộ Thể thao quân đội), các đơn vị tham dự lễ chào cờ đã tập hợp thành khối vuông nghiêm chỉnh. Hàng đầu là đội hình bộ binh gồm Trung đoàn Thủ đô, đại diện các đơn vị toàn Đại đoàn 308 và Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304). Tiểu đoàn tr¬ưởng Tiểu đoàn 54 - Quyết tử quân Hà Nội mùa đông năm 1946, được cử làm Tổng trực chỉnh đốn đội ngũ, báo cáo với Tham mưu truởng Đại đoàn Vũ Yên. Đứng sau đội hình bộ binh là đội hình cơ giới và pháo binh xếp hàng ngang thẳng tắp, xe pháo nghiêm chỉnh, pháo thủ và bộ binh cơ giới đứng nghiêm trên xe. Xung quanh sân vận động, nhân dân các khu phố đã kéo đến đông nghịt, đứng vòng trong vòng ngoài chật ních cả đường Hoàng Diệu và đường Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Ai ai cũng muốn có mặt trong lễ chào cờ lịch sử này. Đúng 15 giờ, còi Nhà hát lớn nổi lên một hồi dài. Toàn thành phố hướng về Cột cờ thành Hoàng Diệu chào mừng Giải phóng Thủ đô. (Các) nguồn Sưu tầm - Tổng hợp tham khảo Ô Quan Chưởng Ô Đông Mác Ô Chợ Dừa Ô Cầu Giấy Ô Cầu Dền Qua 5 cửa đó đó.
Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:11 pm.
|
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:18 pm Post #5 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
"Không có gì quý hơn độc lập , tự do "? Hồ Chí Minh nói câu này ở đâu , năm nào , trong hoàn cảnh nào ? Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn Câu hỏi của bạn rất hay. Tôi gửi để bạn hãy đọc và tham khảo nha. Với một người cũng như với toàn dân tộc - một dân tộc đã rèn đúc cho mình một giá trị sâu sắc bền vững, một truyền thống quý báu: lòng yêu nước, thì hiển nhiên không có gì quý hơn độc lập tự do. Phẩm chất cao đẹp này hình thành sâu đậm trong Hồ Chí Minh ngay từ lúc còn thơ ấu, với ảnh hưởng của một vùng quê, một gia đình giàu lòng yêu nước. Người đã không chỉ tự thấy ở mình mà đã nhìn ra, đã cảm nhận giá trị, phẩm chất cao quý đó trong những người ruột thịt thân yêu, nơi mọi người Việt Nam mà Người thường gọi là đồng bào, những người cùng một nguồn cội, chung một cái bọc của Mẹ Âu Cơ. Ngay từ năm 1924, Người đã viết “chính nó, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế 1908, nó dạy cho những người cu ly (công nhân) biết phản đối, nó làm cho những người nhà quê (nông dân) chống thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chính chủ nghĩa dân tộc (lòng yêu nước) đã luôn thúc đẩy các nhà buôn Việt Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc, nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho các nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa”. Người khẳng định “lòng yêu nước (chủ nghĩa dân tộc) là động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của người Việt Nam và giờ đây người ta sẽ không làm gì được cho người Việt Nam nếu không dựa trên động lực đó!” Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, trên đất nước ta các phong trào yêu nước chống Pháp đều thất bại, không chấp nhận bế tắc khủng hoảng, với sức mạnh, với động lực đó, Người đi khắp năm châu bốn biển, dấn thân vào những ngày sống vất vả, cực nhọc, bất chấp lao tù, hiểm nguy tìm đường cứu nước. Người đến với Đảng Cộng sản, với chủ nghĩa xã hội vì Người tìm thấy ở đó “cái cần thiết cho chúng ta, con đường giải phóng chúng ta”, con đường đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Cách mạng thành công, kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập, một áng văn mà Người cho là được viết với tâm trạng phấn chấn mừng vui hơn bao giờ hết trong đời, Người kết luận bằng lời thề thiêng liêng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Là một người thiết tha yêu hòa bình và hiếu sinh, trong tình hình đã nhân nhượng đến mức cao nhất, nhưng thực dân vẫn lấn tới, Người quyết liệt kêu gọi “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Ngày 17-7-1966, dưới một tán rừng già ở Trà My, tôi nghe Bác Hồ đọc lời kêu gọi không có gì quý hơn độc lập tự do. Vẫn giọng nói ấm ấp thân thiết mà sao đanh thép quyết liệt xúc động lòng người đến thế. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Lúc này Mỹ đã trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam hơn một năm. Những biểu hiện: phong trào chững lại, một số người phân vân dao động, đây đó có chuyện chạy xà đùa cùng với những câu hỏi lớn râm ran: Mỹ là siêu cường, quân lực mạnh, vũ khí tối tân và hậu cần hầu như vô tận, có đánh được Mỹ không đã lùi dần? Thực tiễn chiến đấu đã khẳng định chúng ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ, tất nhiên không phải dễ dàng, vui vẻ như một cuộc dạo chơi mà là vô cùng gian nan, ác liệt. Với trận Núi Thành diệt gọn đại đội Mỹ trong công sự dã chiến trên vành đai Chu Lai (26-5-1965) và Gò Hà diệt gọn đại đội Mỹ trong công sự kiên cố trên tuyến phòng thủ Đà Nẵng (15-10-1965), chúng ta làm nên 8 chữ vàng: Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ. Trong chiến tranh Việt Nam, khi mặt đất rung lên và bị cày xới vì bom đạn, khi màu xanh cây cỏ bị giết bởi thuốc độc thì con người không chỉ tan xương nát thịt mà còn bị xúc phạm về nhân cách, về tinh thần, bởi chính điều trớ trêu này: Nhân danh thế giới tự do Mỹ đã đổ sắt thép, lửa và dioxin xuống dải đất này để diệt trừ độc tài cộng sản. Chính trong những ngày máu lửa ấy, ở rất nhiều thôn xóm của vùng giải phóng Quảng Đà, không có gì quý hơn độc lập tự do đã mau chóng trở thành một khẩu hiệu được thể hiện bằng đủ mọi kiểu chữ, mọi chất liệu. Ban Tuyên huấn Quảng Đà còn phổ biến để mọi cán bộ đều có một mảnh giấy nhỏ in (viết) 9 chữ đó gài trên áo, nơi gần trái tim nhất. Quảng Nam-Đà Nẵng, nơi đầu sóng ngọn gió của Tổ quốc, nơi Mỹ vào sớm nhất, đánh phá ác liệt nhất, lại chính là nơi lời Bác không có gì quý hơn độc lập tự do vang truyền nhanh và sâu rộng nhất. Độc lập, tự do là những khái niệm có hai nội dung, chỉ quyền cơ bản của một dân tộc, một quốc gia và quyền cơ bản của con người, hai nội dung này gắn bó hữu cơ với nhau. Mở đầu Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, Bác Hồ từng dẫn một lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:13 pm.
|
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:26 pm Post #6 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
“Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17/7/1966” [/b]là một tài liệu rất quan trọng, đã được sử dụng khá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, các ấn phẩm và trong các trưng bày triển lãm ở các Bảo tàng Trung ương và địa phương. Tài liệu ban đầu có tên gọi là: "Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17/7/1966", về sau cũng có tên gọi là "Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước", trong Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1996 tµi liÖu lại ®îc đặt tên là: "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Hồ Chí Minh, tài liệu được sử dụng trưng bày ở diện 1 thuộc chủ đề 7, díi dạng bản chụp lại với chú thích cụ thể là: "Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17/7/1966" I/ Hoàn cảnh ra đời của tài liệu: Năm 1965, bị thất bại nặng nề trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ thi hµnh chiến lược chiến tranh cục bộ t¹i MiÒn nam Việt Nam. Tháng 8/1965, Mỹ ồ ạt đưa 30 vạn quân viễn chinh và rất nhiều vũ khí và thiết bị quân sự vào miền Nam Việt Nam hòng nhanh chóng tiêu diệt quân cách mạng và bình định miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Đồng thời ®Õ quèc Mü mở rộng chiến tranh ra miền Bắc XHCN bằng cuộc chiến tranh phá hoại do không quân và hải quân thực hiện. Nhưng ngay mùa khô năm 1965 - 1966, quân Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường miền Nam, cßn ở miền Bắc quân và dân ta đã bắn rơi hàng nghìn máy bay các loại của đế quốc Mỹ. Thua đau, nhưng đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược mà càng đem quân và vũ khí, không chỉ mang quân Mỹ đến mà còn đưa cả quân chư hầu Úc, Thái lan, Nam Triều Tiên... vào tham chiến, một mặt muốn giành lại thế chủ động ở chiến trường ép quân giải phóng phải co cụm lại, đồng thời cắt đường tiếp tế cho chiến trường miền Nam từ hậu phương miền Bắc. Mặt khác chúng âm mưu ép ta phải ngồi vào bàn đàm phán theo ý muốn của chúng. Trước âm mưu của địch, lường trước khả năng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn lan rộng và vô cùng ác liệt. Để khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi. Đồng thời chuẩn bị tư tưởng trước cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta bước vào một giai đoạn chiến đấu mới quyết liệt hơn, khó khăn hơn và hy sinh nhiều hơn để giành lấy thắng lợi hoàn toàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi quan trọng này. II/ Quá trình hình thành tài liệu: Trước khi viết tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết dưới dạng lời phát biểu, thư động viên, thư khen và các bài báo ca ngợi tinh thần chiến đấu của quân và dân hai miền Nam - Bắc, tố cáo âm mưu của đế quốc Mỹ và tay sai, kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam như: Lời chúc đầu năm gửi nhân dân Mỹ (01/01/1966), "Điện gửi Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ La-tinh (03/01/1966), "Bài nói chuyện tại Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ cứu nước" (06/01/1966), "Mỹ hoạt động hoà bình giả để mở rộng chiến tranh thật" (08/01/1966), Thư gửi các vị đứng đầu một số nước (21/01/1966), "Mỹ nhất định thua" (01/02/1966), "Thư khen quân và dân miền Bắc bắn rơi 1000 máy bay Mỹ" (30/4/1966), "Kiên quyết đập tan âm mưu giặc Mỹ" (28/6/1966), "Chúng ta phải làm thật tốt việc sơ tán" (10/7/1966)... Nhưng để thể hiện đầy đủ ý chí nguyện vọng và quyết tâm của dân tộc Việt Nam, và vạch rõ âm mưu của đế quốc Mỹ cho toàn thế giới biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định ra lời kêu gọi ngày 17/7/1966. Bản thảo đầu tiên được viết tay bằng bút mực mầu xanh đen do Chủ tịch đọc cho đồng chí Vũ Kỳ là thư ký riêng của Người ghi lại. Bản thảo này gồm 03 trang phía cuối có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng bút bi đỏ gửi các đồng chí: Tô (Phạm Văn Đồng), Duẩn (Lê Duẩn), Tố Hữu, 5 (Trường Chinh), Dũng (Văn Tiến Dũng), Hùng (Phạm Hùng), Thọ (Lê Đức Thọ), 2 (Lª Quý Hai), Văn (Võ Nguyên Giáp), Trinh (Nguyễn Duy Trinh). Phía bên phải Bác ghi rõ: "Xin cho ý kiến, và gửi lại chiều hôm nay", h«m ®ã lµ ngµy 14/7/1966. Bản thảo tiếp theo gồm 07 bản đánh máy trên giấy pơluya trắng gửi đến các đồng chí: Tố Hữu, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng. Trên 07 bản đánh máy này đều có bút tích của các đồng chí được Bác đề nghị đóng góp ý kiến và có những dấu ký (x) hoặc gạch chân những ý kiến của các đồng chí trong Ban Bí thư và Bộ Chính trị. Bản thảo lần thứ 3 là bản đánh máy trên giấy pơluya trắng nội dung sao từ bản thảo lần 2 và có tiếp thu một số ý kiến đóng góp của các đồng chí trên. Bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng bút bi đỏ bên góc trái của trang 1 ghi "15/7/1966". Trong sưu tập bản thảo của tài liệu này còn một bản thảo (tạm gọi là bản thứ 4) bao gồm 2 trang 1/2 đánh máy trên giấy pơluya trắng nội dung đúng như bản thảo lần 3 nhưng lại có một số sửa chữa dấu chấm phẩy, thay đổi một số từ ngữ đây là bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng bút bi đỏ. Đối chiếu với bản in trong Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 12, xuất bản lần thứ 2 - 1966 là hoàn toàn chính xác, như vậy có thể xem đây là bản chính thức. Như vậy quá trình hình thành tài liệu kéo dài trong 3 ngày là ngày 14,15 và 16/7/1966. Sáng ngày 17/7/1966, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được phát trên sóng đài tiếng nói Việt Nam, và được đăng trên báo Nhân Dân số 4484, ngày 17/7/1966. Sưu tập bản thảo này hiện đang được bảo quản tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. III/ Những nội dung chính của tài liệu: Lời kêu gọi ngày 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể xem đây là một tài liệu gốc theo ngôn ngữ Bảo tàng, nhưng cũng có thể xem đây là một tác phẩm ở góc độ nội dung và ý nghĩa của văn kiện này. Xét về nội dung của tài liệu chúng ta thấy toát lên mấy điểm chính sau đây. Một là: Lời kêu gọi đã vạch trần âm mưu thâm độc và tội ác v« cïng d· man của đế quốc Mỹ hòng quyết tâm xâm lược nước ta mà Bác Hồ dùng cụ thể là: "Đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta." tố cáo chúng đã đưa 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam trực tiếp đàn áp đồng bào chiến sỹ ta. Chúng sử dụng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ như "chất độc hoá học, bom na-pan..." chúng dùng chính sách "đốt sạch, giết sạch, phá sạch" hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta. Đồng thời trong lời kêu gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tố cáo hòng gỡ thế bí ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã trắng trợn dùng không quân đánh phá miền Bắc, và càng ngày càng leo thang muốn mở rộng chiến tranh ra miền Bắc ném bom Thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn, các khu công nghiệp, phá hoại hệ thống giao thông của miền Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi của mình Người nói: "Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng". Hai là: Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta cả ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Quân và dân miền Nam đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng đã thắng lợi vẻ vang thực hiện mục tiêu quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới thống nhất nước nhà. Quân và dân miền Bắc không hề nao núng vừa sản xuất vừa chiến đấu, đã bắn tan xác h¬n 1200 máy bay địch, quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đồng thời hết lòng hết sức ủng hộ miền Nam. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi của người Việt Nam là đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược mặc dù chúng có thể đưa 50 vạn quân hoặc 1 triệu quân Mỹ vào Việt Nam, chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay để đánh phá miền Bắc. Thông qua lời kêu gọi đã thể hiện dân tộc Việt Nam hết sức bình tĩnh trước khó khăn, thách thức, tin tưởng vào sức mình, vào sự đoàn kết của toàn dân tộc. "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song người Việt Nam quyết không sợ". Trong lời kêu gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một chân lý nổi tiếng làm cho lời kêu gọi ngày 17/7/1966 có sức lan toả rất xa và có sức mạnh tập hợp đoàn kết rất mạnh mẽ, đồng thời khẳng định một niềm tin lớn vào ngày mai. Đó là chân lý "Không có gì quý hơn độc lập - tự do". Và "đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Ba là: Trong lời kêu gọi ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ cho toàn thế giới thấy rằng: nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình. Sở dĩ Việt Nam phải tiến hành cuộc chiến đấu gian khổ chịu rất nhiều hy sinh cũng vì hoà bình, độc lập tự do của dân tộc mình và của cả loài người. Người khẳng định rằng: muốn có hoà bình ngay lập tức thì chỉ cần đế quốc Mỹ rút khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đó là lập trường 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và 5 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã vạch rõ âm mưu hoà bình giả hiệu của chính quyền Mỹ hòng ép Việt Nam phải ngồi vào đàm phán theo ý Mỹ đó là đàm phán hoà bình giả hiệu nhằm tung hoả mù trước dư luận quốc tế. Trong lời kêu gọi này một lần nữa Người thay mặt cả dân tộc Việt Nam khẳng định lại với thế giới rằng: nhân dân Việt Nam đồng tâm nhất trí vượt mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang là đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Đồng thời trong lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam trịnh trọng cảm ơn nhân dân thế giới trong đó có cả nhân dân Mỹ, Chính phủ các nước anh em, bè bạn quốc tế đã hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến chống xâm lược chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, cảm ơn sự giúp đỡ hiệu quả của các nước anh em, bè bạn khắp 5 châu. Kêu gọi cả loài người tiến bộ, đặc biệt là những người bạn Mỹ và nhân dân Mỹ hãy chặn bàn tay tội ác của bọn xâm lược Mỹ, hãy cứu lấy những thanh niên Mỹ để khỏi phải làm bia đỡ đạn cho bọn xâm lược Mỹ tại chiến trường miền Nam. Vì việc làm đó là vô nghĩa. Vì cuối cùng thì chiến thắng cũng thuộc về nhân dân Việt Nam. IV/ Ý nghĩa của tài liệu: - Trước hết đây là một văn kiện có giá trị như một lời hịch kêu gọi cả dân tộc tiến lên để chiến thắng. Lời kêu gọi như một cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc thống nhất ý chí, thống nhất niềm tin, củng cố đội ngũ để đi vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại nhất không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của cả nhân loại ở thế kỷ 20. - Qua lời kêu gọi rất ngắn gọn xúc tích, đầy sức thuyết phục Hồ Chí Minh đã chứng minh cho nhân dân ta và cả thế giới biết rằng kẻ thù dù có hung bạo đến đâu, dù có lắm súng nhiều tiền đến đâu thì cũng không thể thắng được nhân dân Việt Nam: cái chính nghĩa phải thắng cái phi nghĩa; cái văn minh phải thắng bạo tàn; cái thiện phải thắng cái ác. Hoà bình là niềm tin và khát khao của nhân loại. Hoà bình không phải chỉ giành cho một dân tộc, một quốc gia mà là của cả lo¹i ngêi. Nhưng đó phải là hoà bình chân chính, hoà bình trong độc lập, tự do như chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong lời kêu gọi: "Không có gì quý hơn độc lập - tự do". - Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, với một thế giới đa cực, các quốc gia muốn một phát triển bền vững lâu dài thì nhất định không thể không tuỳ thuộc vào nhau, để giải quyết các vấn đề thời đại như chiến tranh, khủng bố dịch bệnh và môi trường,.. đồng thời còn chứng minh cho tầm nhìn Hồ Chí Minh về một thế giới tương lai là độc lập dân tộc, là tự do phát triển - sự phát triển của mỗi quốc gia phải là điều kiện để các quốc gia khác cùng phát triển. Chỉ với gồm 3 trang sách ngắn gọn, nội dung gồm 3 phần rõ ràng khúc triết, lời kêu gọi 17/7/1966 đã toát lên ý chí Việt Nam, tinh thần Việt Nam, văn hoá Việt Nam và dòng chảy bất tận của nó. --->phủ chủ tịch Edited by Armstrong, 27/05/2010 - 09:30 pm.
|
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:28 pm Post #7 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
Trận Điện Biên Phủ trên không diễn ra từ 19 giờ 50 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972 đến 24 giờ ngày 29 tháng 12 năm 1972 tại Hà Nội. 19 giờ 50 phút đêm 18-12-1972 cả đất trời Hà Nội rung chuyển dưới những loạt bom B52. Cả nước, cả thế giới hướng về Hà Nội với sự quan tâm đặc biệt. Và cũng chính trong đêm đó, Hà Nội đã đánh thắng trận đầu xuất sắc: 3 pháo đài bay B52 bị bắn rơi, trong đó 2 chiếc rơi tại chỗ. Kết quả 12 ngày đêm của chiến dịch tập kích B52 Mĩ, Hà Nội cùng Hải Hải Phòng, Thái Nguyên đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay chiến lược .... |
![]() |
|
| kaka | 03/02/2010 - 12:30 pm Post #8 |
|
Đạt Ma Sư Tổ
![]()
|
Hà Nội kỉ niệm 10 năm được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hoà bình" (Theo Kinh tế đô thị ) Hà Nội kỉ niệm 10 năm được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hoà bình" lễ kỷ niệm 10 năm Hà Nội được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hoà bình" KTĐT - Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nhấn mạnh, danh hiệu ''Thành phố vì Hoà bình'' là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với Hà Nội. Sáng 27/10, thành phố Hà Nội và Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 10 năm Hà Nội được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hoà bình" tại Nhà hát Lớn. Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nhấn mạnh, danh hiệu ''Thành phố vì Hoà bình'' là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với Hà Nội. Đại Hội đồng UNESCO vừa qua đã thống nhất cao và thông qua việc tham gia vào tổ chức Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội vào năm 2010 là niềm vinh dự lớn với thành phố Hà Nội. Chúng tôi xin gửi tới bạn bè quốc tế thông điệp về một Thủ đô ngàn năm văn hiến, Thành phố vì Hoà bình, về con người Thăng Long-Hà Nội thanh lịch và tài hoa, một Hà Nội năng động đang trên đà phát triển; cùng với đất nước và con người Việt Nam, cùng với bạn bè quốc tế, phấn đấu không ngừng cho một nền hoà bình trường tồn trên trái đất, là nền tảng tốt đẹp và vững chắc cho sự phát triển, thịnh vượng và hội nhập. Hà Nội kỉ niệm 10 năm được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hoà bình" Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo phát biểu tại buổi lễ. (Ảnh : Hanoimoi.com.vn) Chia sẻ tình cảm với những người bạn Hà Nội-Việt Nam nhân sự kiện này, Đại sứ Cộng hoà Cuba tại Việt Nam Fredesman Turro Gonzalez nói: Tôi nhận ra rằng mình đã sống ở Hà Nội hơn 20 năm và yêu thành phố này như yêu chính quê hương của mình. Hà Nội đã trở thành một thành phố quan trọng của Đông Nam Á, đã và sẽ đăng cai các sự kiện quan trọng trong quá trình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới, đóng góp một cách tích cực vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình thế giới... Buổi lễ kết thúc bằng chương trình biểu diễn những tiết mục xuất sắc của Liên hoan Giai điệu hoà bình hữu nghị Hà Nội năm 2009 do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Hà Nội tổ chức. Hà Nội kỉ niệm 10 năm được UNESCO trao tặng danh hiệu "Thành phố vì Hoà bình" Các tiết mục văn nghệ chào mừng sự kiện đặc biệt này của Thủ đô. (Ảnh: Hanoimoi.com.vn) Cách đây tròn 10 năm, ngày 16/7/1999, tại La Paz, thủ đô Bolivia, UNESCO đã tổ chức trọng thể Lễ trao "Giải thưởng UNESCO-Thành phố vì Hoà bình" năm 1999 cho 5 thành phố thuộc 5 châu lục trên thế giới. Thủ đô Hà Nội là thành phố duy nhất của khu vực châu Á-Thái Bình Dương vinh dự nhận phần thưởng cao quý này. Đây là danh hiệu được bạn bè quốc tế tôn vinh, ghi nhận những đóng góp của Hà Nội trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, cũng như trong sự nghiệp phát triển, xây dựng thành phố phù hợp với những tiêu chí do UNESCO đề ra về bình đẳng trong cộng đồng, xây dựng đô thị, giữ gìn môi trường sống, thúc đẩy phát triển văn hoá giáo dục, chăm lo giáo dục công dân và thế hệ trẻ./. Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:21 pm.
|
![]() |
|
| phaletim | 24/02/2010 - 10:29 pm Post #9 |
![]()
|
bài viết rất có ích
Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:19 pm.
|
![]() |
|
| phaletim | 24/02/2010 - 10:30 pm Post #10 |
![]()
|
bài viết rất hay. cậu có tài liệu nào tham khảo nữa thì post tiếp nhé
Edited by Armstrong, 14/05/2010 - 10:17 pm.
|
![]() |
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| Go to Next Page | |
| « Previous Topic · Góc Học Tập · Next Topic » |






9:27 PM Jul 11